118 ĐÀO CAM MỘC, PHƯỜNG 4, QUẬN 8
17h00 - 20h00
PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BÁC SĨ HIẾU

PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN QUA ĐƯỜNG MỔ LỐI SAU XÂM LẤN TỐI THIỂU BẢO TỒN CƠ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 7A

Mục lục
    Dịch tễ học và gánh nặng toàn cầu của các bệnh lý cần phẫu thuật thay khớp háng toàn phần (THR) chủ yếu xuất phát từ thoái hóa khớp háng và gãy cổ xương đùi. Đây là những tình trạng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và hệ thống y tế trên toàn thế giới, với tỷ lệ mắc bệnh đang có xu hướng gia tăng trong vài thập kỷ qua.

    PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN QUA ĐƯỜNG MỔ LỐI SAU XÂM LẤN TỐI THIỂU BẢO TỒN CƠ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 7A

    Tác giả: BS.CKII Nguyễn Ngọc Hiếu

    I. Tình hình nhu cầu thay khớp háng toàn phần trên thế giới và tại Việt Nam

    Trên thế giới

    Dịch tễ học và gánh nặng toàn cầu của các bệnh lý cần phẫu thuật thay khớp háng toàn phần (THR) chủ yếu xuất phát từ thoái hóa khớp háng và gãy cổ xương đùi. Đây là những tình trạng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và hệ thống y tế trên toàn thế giới, với tỷ lệ mắc bệnh đang có xu hướng gia tăng trong vài thập kỷ qua.

    Thoái hóa khớp háng

    Tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi (ASIR) của thoái hóa khớp háng đã tăng từ 17,02 lên 18,70 trên 100.000 dân trong giai đoạn 1990 đến 2019, kèm theo đó là sự gia tăng đáng kể về số năm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật (DALYs), từ 11,54 lên 12,57 trên 100.000 dân[1]. Dân số già hóa và tình trạng béo phì ngày càng phổ biến được dự báo sẽ làm tăng gấp đôi số người cao tuổi mắc viêm khớp, dẫn đến nhu cầu thay khớp háng toàn phần (THA) tại Hoa Kỳ tăng 174% vào năm 2030 [2].

    Gãy cổ xương đùi

    Năm 2021, số ca gãy cổ xương đùi trên toàn cầu đạt 16,9 triệu ca, trong đó té ngã là nguyên nhân chiếm đến 83,1% [3]. Tỷ lệ gãy cổ xương đùi vẫn ở mức cao ở nhóm người trên 70 tuổi, và phụ nữ có tỷ lệ mắc cao hơn so với nam giới[4].

    Tình hình tại Việt Nam


    Tại Việt Nam, số ca thoái hóa khớp háng và gãy cổ xương đùi đang có xu hướng gia tăng rõ rệt do tốc độ già hóa dân số nhanh chóng và sự thay đổi trong lối sống hiện đại. Gãy cổ xương đùi ở người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ sau mãn kinh, chiếm tỷ lệ đáng kể trong các trường hợp nhập viện do chấn thương chỉnh hình. Tuy hiện nay dữ liệu dịch tễ học toàn quốc còn hạn chế, nhưng nhiều nghiên cứu đơn trung tâm tại các bệnh viện lớn như Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM và Bệnh viện Việt Đức cho thấy nhu cầu phẫu thuật thay khớp háng toàn phần ngày càng tăng. Tính đến năm 2025, bệnh viện Việt Đức đã thực hiện rất nhiều ca THA thành công cho người cao tuổi, chủ yếu do gãy cổ xương đùi và thoái hóa khớp. Nghiên cứu tại đây cho thấy kết quả phục hồi chức năng sau mổ rất khả quan, với phần lớn bệnh nhân cải thiện rõ rệt về khả năng vận động và chất lượng cuộc sống[5].

    II. Kết quả điều trị ở Việt Nam và tại bệnh viện Quân y 7A

    Thay khớp háng toàn phần qua đường mổ lối sau xâm lấn tối thiểu bảo tồn cơ (chẳng hạn như kỹ thuật ABMS – Anterior-Based Muscle-Sparing) là một bước tiến mới trong phẫu thuật thay khớp háng, được thiết kế nhằm giảm thiểu tổn thương mô mềm, đặc biệt là các cơ quan trọng quanh khớp như cơ mông lớn và nhóm cơ xoay ngoài. Kỹ thuật này đang được triển khai hiệu quả tại một số trung tâm lớn ở Việt Nam như Bệnh viện Tâm Anh TP.HCM.

    Nghiên cứu tiến cứu trên 44 bệnh nhân được phẫu thuật thay khớp háng toàn phần bằng đường mổ ABMS tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả phục hồi tốt, ít xâm lấn và an toàn. Thời gian phẫu thuật trung bình khoảng 77 phút, lượng máu mất thấp, chỉ một trường hợp phải truyền máu. Vết mổ nhỏ (~8,6 cm) và thời gian nằm viện ngắn (~3,4 ngày). Điểm Harris cải thiện rõ rệt sau 3 và 6 tháng. Tỷ lệ biến chứng thấp, chỉ ghi nhận một ca trật khớp (2,27%) và hai ca gãy mấu chuyển trong mổ (4,54%).[6]

    Với xu hướng phẫu thuật hiện đại đề cao tính ít xâm lấn, bảo tồn cấu trúc giải phẫu và tối ưu hóa quá trình hồi phục, kỹ thuật thay khớp háng toàn phần qua đường mổ lối sau xâm lấn tối thiểu bảo tồn cơ đã và đang được xem là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình.

    Nhận thấy rõ những ưu điểm vượt trội của phương pháp này – như hạn chế tổn thương mô mềm, giảm đau sau mổ, ít mất máu, tỷ lệ biến chứng thấp và giúp bệnh nhân phục hồi chức năng sớm – Bệnh viện 7A đã chủ động đưa kỹ thuật này vào thực tiễn điều trị cho các bệnh nhân có chỉ định thay khớp háng toàn phần.

    Qua quá trình triển khai, chúng tôi ghi nhận nhiều kết quả khả quan: trong nhóm 23 bệnh nhân, thời gian phẫu thuật trung bình khoảng 74 phút, vết mổ nhỏ (khoảng 8,2 cm), và lượng máu mất trong mổ thấp (trung bình ~240 ml). Mức giảm hemoglobin sau mổ dao động nhẹ (~1,6 g/dL), chỉ có 1 trường hợp cần truyền máu. Thời gian nằm viện trung bình là 3,1 ngày. Điểm Harris cải thiện rõ rệtđiểm sau 3 tháng và sau 6 tháng. Tỷ lệ biến chứng thấp với chỉ 1 ca trật khớp (4,3%) và 1–2 ca gãy mấu chuyển trong mổ.

    Việc ứng dụng kỹ thuật này không chỉ mang lại hiệu quả rõ rệt trong thực tế lâm sàng, mà còn mở ra nhiều triển vọng trong việc nâng cao chất lượng điều trị và phục hồi chức năng cho người bệnh trong tương lai.

    III. Kỳ vọng, kết quả và góc nhìn từ bệnh nhân và bác sĩ

    Kỳ vọng của bệnh nhân trước và sau mổ
    Thay khớp háng toàn phần là một trong những phương pháp phẫu thuật hiệu quả nhất trong điều trị thoái hóa khớp háng, hoại tử chỏm xương đùi hoặc gãy cổ xương đùi không thể bảo tồn. Trước khi được chỉ định mổ, nhiều bệnh nhân phải sống chung với đau dai dẳng, hạn chế vận động, mất khả năng tự chăm sóc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.

    Trường hợp ông N.M.T, 57 tuổi, là ví dụ điển hình. Trước phẫu thuật, ông mô tả cảm giác "đi như kéo lê chân", thuốc giảm đau không còn tác dụng, và ước vọng lớn nhất là có thể tự đi lại, tự lo sinh hoạt cá nhân mà không phụ thuộc người thân. Tuy vậy, bên cạnh kỳ vọng là những lo lắng rất thực tế: mổ có đau không, bao lâu mới đi lại được, liệu có biến chứng, phục hồi có hoàn toàn không?

    Kết quả sau mổ với kĩ thuật xâm lấn tối thiểu bảo tồn cơ

    Tại Bệnh viện Quân y 7A, phẫu thuật thay khớp háng hiện được thực hiện bằng kỹ thuật đường mổ lối sau xâm lấn tối thiểu bảo tồn cơ. Khác với các kỹ thuật truyền thống, phương pháp này cho phép tiếp cận khớp qua khoảng trống tự nhiên giữa các cơ, hạn chế tối đa việc cắt cơ hoặc gân.

    Theo bác sĩ điều trị, trong trường hợp ông T., vết mổ dài khoảng 8–10 cm, cơ được tách nhẹ, không cắt, phẫu thuật diễn ra thuận lợi, ít mất máu, không cần truyền máu. Chỉ sau 24 giờ, bệnh nhân đã có thể đứng dậy và tập đi với hỗ trợ.

    X-quang sau mổ cho thấy khớp nhân tạo được đặt đúng vị trí, vết mổ khô và liền tốt sau một tuần, không ghi nhận biến chứng thần kinh hay nhiễm trùng.

    A x-ray of a person's body

AI-generated content may be incorrect.

    Hình 1. X-quang trước mổ

    X-ray of a hip joint

AI-generated content may be incorrect.

    Hình 2. X-quang sau mổ

     

    Phục hồi chức năng

    Lợi thế nổi bật của kỹ thuật bảo tồn cơ là khả năng phục hồi nhanh. Việc giữ nguyên nhóm cơ mông – đặc biệt là cơ hình lê và các cơ xoay ngoài – giúp giảm đau, hạn chế teo cơ và tái trật khớp.

    Ông T. bắt đầu tập đi với khung từ ngày thứ hai sau mổ. Sau 1 tuần, ông tự đi lại trong phòng; 2 tuần sau đã có thể leo cầu thang thấp và thực hiện các động tác gập háng, xoay hông. Sau 6 tuần, ông đi lại ngoài trời bằng gậy hỗ trợ nhẹ. Tại lần tái khám sau 2 tháng, ông đã đi bộ được hơn 500m/ngày, tự sinh hoạt, lên xuống cầu thang, và chia sẻ rằng "cảm giác như được sống lại lần nữa".

     

    A person in a hospital gown holding a cell phone

AI-generated content may be incorrect.

    Hình 3. Ông T. đã tự đứng lên và đi lại sau 24 giờ sau phẫu thuật

    Góc nhìn chuyên môn

    BS CKII Nguyễn Ngọc Hiếu – Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, người thực hiện ca mổ nhận định:

    “Thay khớp háng không mới, nhưng lựa chọn đường mổ phù hợp là chìa khóa giúp giảm đau, phục hồi nhanh và giảm biến chứng. Kỹ thuật xâm lấn tối thiểu bảo tồn cơ cho phép rút ngắn thời gian nằm viện, ít nguy cơ trật khớp và cải thiện rõ rệt trải nghiệm hậu phẫu.”

    Hiện tại, Bệnh viện Quân y 7A đang từng bước mở rộng kỹ thuật này, không chỉ ở người cao tuổi mà còn áp dụng hiệu quả cho bệnh nhân trẻ bị hoại tử chỏm xương đùi hoặc gãy cổ xương đùi do chấn thương.

    Cảm nhận người bệnh

    Trong ngày thứ 5, ông T chia sẻ:

    “Lúc đầu tôi rất sợ đau, nhưng mổ xong bác sĩ động viên đứng dậy sớm, tôi cố gắng làm theo và thấy hiệu quả. Vết mổ không đau như tôi tưởng. Bây giờ tôi chỉ mong tiếp tục tập luyện để đi lại như cũ và chơi với cháu mỗi chiều.”

    Kết luận

    Kỹ thuật thay khớp háng toàn phần bằng đường mổ lối sau xâm lấn tối thiểu tại Bệnh viện Quân y 7A là minh chứng rõ nét cho sự phát triển của phẫu thuật hiện đại: kết hợp giữa hiệu quả điều trị và tính nhân văn. Không chỉ đảm bảo chính xác về mặt giải phẫu, kỹ thuật này còn mang lại khả năng hồi phục sớm, giảm đau rõ rệt, rút ngắn thời gian nằm viện và tăng chất lượng sống.

    Từ kỳ vọng ban đầu của người bệnh đến kết quả hậu phẫu và phục hồi thực tế, có thể khẳng định rằng kỹ thuật này đang mở ra một hướng điều trị an toàn, hiệu quả và nhân bản hơn cho hàng ngàn bệnh nhân khớp háng tại Việt Nam.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Fu M, Zhou H, Li Y(B), Jin H, Liu X. Global, regional, and national burdens of hip osteoarthritis from 1990 to 2019: estimates from the 2019 Global Burden of Disease Study. Arthritis Res Ther. 2022;24(1):1. doi:10.1186/s13075-021-02705-6
    2. Nho SJ, Kymes SM, Callaghan JJ, Felson DT. The burden of hip osteoarthritis in the United States: epidemiologic and economic considerations. J Am Acad Orthop Surg. 2013;21:S1–S6. doi:10.5435/JAAOS-21-07-S1
    3. Su J, Xiao Z, Chang H, Xu G, He J. Global, regional, and national burden of hip fractures from 1990 to 2021: results from Global Burden of Disease Study 2021. Research Square. Published online September 18, 2024. doi:10.21203/rs.3.rs-4859273/v1
    4. Dong Y, Zhang Y, Song K, Kang H, Ye D, Li F. What was the epidemiology and global burden of disease of hip fractures from 1990 to 2019? Results from an additional analysis of the Global Burden of Disease Study 2019. Clin Orthop Relat Res. 2022;481:1209–1220. doi:10.1097/CORR.0000000000002465
    5. Thinh NXH, Toan DD. Kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng điều trị hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;536(1). doi:10.51298/vmj.v536i1.8639
    6. Lê Đình Khoa, Hồ Văn Duy Ân, Trần Ngọc Chọn, Nguyễn Văn Ơn. Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần với đường mổ ABMS. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2024;65(CĐ11-HN Chấn thương Chỉnh hình-TPHCM):1171–1175. doi:10.52163/yhc.v65iCD11.1751

     

    0982416868
    Phone
    Messenger
    Zalo
    Maps